Kết quả khảo sát mới nhất tại 192 làng nghề ở Bắc Ninh, Nam Định, Hưng Yên về nước thải cho biết, cả 192 làng nghề này đều không có hệ thống xử lý nước thải trước khi đưa ra hệ thống thoát nước chung; còn về khí thải thì có tới 60% số hộ sản xuất để phát thải tự do. Riêng về những làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ, tất cả các hộ sản xuất đều không có ống khói thoát khí. Các chỉ tiêu hữu cơ, coliform, NH4, bụi đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Các làng nghề cơ khí, nồng độ ô nhiễm bụi và khí SO2, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1 đến 76 lần. Tại làng gốm Bát Tràng số người chết vì ung thư phổi ngày càng nhiều. Theo điều tra, cứ 100.000 người dân thì có 126, 6 người bị ung th ư, trong đó 40 người bị chết do ung thư phổi. Nguyên nhân chính là hít phải khí than từ các lò nung gốm… Đối với các vùng trồng rau, ô nhiễm môi trường lại đến từ một hướng khác. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phòng dịch… không có hướng dẫn khoa học, không có sự kiểm tra, quản lý chặt chẽ những hoá chất cấm sử dụng đã gây ra những tác hại nghiêm trọng về sức khoẻ người tiêu dùng, làm mất cân bằng sinh thái.? nhiễm các con sông và vùng ven biển do nước sản xuất không được xử lý thải ra đã làm hải sản như tôm chết hàng loạt… Chỉ nói riêng về ô nhiễm Asen (thạch tín). Loại ô nhiễm này ngày xuất hiện càng nhiều. Asen là nguyên tố tự nhiên, thường nằm trong các tầng đá trầm tích. Quá trình khai thác nước ngầm sẽ làm cho hàm lượng ô xi trong nước tăng và chất Asen dễ hoà tan trong nước. Nếu việc khai thác nước ngầm không có kế hoạch, không có tổ chức, nguồn nước ngầm sẽ cạn kiệt dần, nồng độ Asen sẽ tăng theo. Đến một mức nào đó nó sẽ gây tác hại. Như vậy là có thể nói, vấn đề ô nhiễm môi trường xét về tổng thể, đều do hành động của con người gây ra.
Nhưng điều đáng nói ở đây là, tình trạng ô nhiễm của tất cả các làng nghề cũng mới chỉ được khảo sát và đưa ra những con số báo động như vậy nhưng để đưa ra một hệ thống những giải pháp khắc phục cụ thể và hiệu quả thì nhìn chung còn thiếu. Vấn đề cần đặt ra ở đây là, tuy Luật Bảo vệ môi trường đã có hiệu lực, nhưng cần thiết các cơ quan hữu quan cùng các bộ như Bộ CN, Bộ TN &MT, Bộ NN &PTNT… phải xây dựng và hoàn thiện những văn bản hướng dẫn, tổ chức bộ máy và đầu tư tốt cho việc thực hiện. Đối với những vùng, những làng nghề, những cơ sở sản xuất đã xác định là gây ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng, cần phải nhanh chóng có những giải pháp xử lý triệt để. Nên cho lập tức dừng hoạt động. Những nơi ô nhiễm vừa phải, có thể cho chuyển đổi mặt hàng, yêu cầu đầu tư công nghệ mới, tiên tiến mới cho phép sản xuất tiếp tục. Đặc biệt, với các làng nghề, vì nó gắn liền với cuộc sống thiết thực hằng ngày của người dân, mang tính truyền thống, nên việc xử lý tốt nhất là đầu tư hệ thống xử lý các nguồn phát thải gây hại cho sức khoẻ con người. Có như thế mới đảm bảo quyền lợi của người dân và bảo tồn, phát triển được làng nghề. Muốn vậy, về lâu dài cần thiết phải khảo sát, xây dựng được bản đồ làng nghề ô nhiễm. Phải phân ra mức độ ô nhiễm nặng nhẹ của từng làng nghề và có quy hoạch cụ thể để có căn cứ xây dựng hệ thống các giải pháp khắc phục trước mắt cũng như lâu dài tình trạng ô nhiễm làng nghề.
Trong giai đoạn mở cửa vừa qua, có một thực tế là hầu hết các ngành, các lĩnh vực chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà “quên” mất vai trò của sự phát triển bền vững về môi trường. Những bài học về một loạt các địa phương được gọi là “làng ung thư”, những vụ hàng trăm người bị ngộ độc thực phẩm, … hy vọng sẽ cảnh tỉnh được các nhà chức trách, các cơ quan chức năng cùng những người dân thận trọng hơn trong việc tự bảo vệ mình trước những nguy cơ tiềm ẩn về ô nhiễm môi trường.
Được biết, theo từng năm Chính phủ cũng đã có quyết định đưa nguồn kinh phí bảo vệ môi trường về từng địa phương cụ thể. Việc sử dụng nguồn kinh phí này cần phải được đảm bảo đúng nơi, đúng chỗ, đúng mục đích mới mong đem lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững.